NH̀N THẾ GIỚI VỚI TÂM HỒN TRẺ THƠ
Alfredlfred Tennyson, một thi sĩ nổi tiếng nước Anh, khi về già đã phát biểu rằng khác vọng lớn lao nhất cuả đời ông là được nhìn thấy rõ ràng dung nhan của Thượng Đế! Trước khi chết ông trối cho thân nhân là khi các thơ của ông được xuất bản thành thi tập, phải cho in thêm bài thơ:"Vuợt Qua Cữa Aỉ" trong đó có câu như sau:
"Sau khi tôi đã vượt qua cữa ải, xin cho tôi được diện đối diện với Người Dẫn Đạo đời tôi"
Đa số chúng ta không có tài hùng biện, và ngồi bút lưu loát như thi sĩ Alfred Tennyson, nhưng tất cả chúng ta đều ôm ấp một niềm ướvc mơ là được nhìn hấy Thiên Chúa. Thánh Kinh nhắc nhớ chúng ta niềm mơ đó nhất là Phúc Thật Thứ Sáu:
“Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, họ sẽ được xem thấy Thiên Chúa”
" Beati mundo corde, quoniam ipsi Deum videbunt"( (Mat. 5:8)
Tâm Hồn Trong Sạch
Hầu hết các bản dịch bằng anh-ngữ đều dịch hai chữ trong sạch, khiết tịnh bằng : "pure" hoặc " "clean". Và như , cả câu được dịch :" Blessed are the pure in heart, for they shall see God"!
Nếu lời tuyên dương trên một cách hời hợt ngoại diện, phản ứng đầu tiên của chúng ta là một sự tuyệt vọng, bởi vì khát vọng sâu xa mãnh liệt nhất của ta được trông thấy Chúa hầu như bất khả thành tựu do điều liện tiên quyết đặt ra là: tâm hồn phải tinh khiết vẹn tuyền! Ai trong chúng ta dám vỗ ngực tự xưng mình là người có đủ điều kiện để xem thấy Chúa, nghĩa là có trái tim vẹn sạch không tỳ ố, không vết nhơ tội lỗi?Ngoại trừ Đức Maria tinh tyền vẹn sạch, chẳng có ai trong con cái loài người dám nhận mình có tâm hồn thanh khiết vẹn sạch cả! Sâu thẳm trong trái tim, mọi người chúng ta đều nhìn thấy thân phận tội lụy của mình! Tất con cháu Evà, đang rên xiết trong thung lủng đầy nước mắt(valley of tears) khổ đau, tất cả đều bị tội lỗi khống chế, đè nén!
Câu hỏi then chốt vô cùng quan trọng đặt ra cho Mối Phúc thứ Sáu là: Hiểu thế nào về hai chữ "Pure in heart", dịch sát nghĩa là : trái tim tinh tuyền, hay gọn gàng hơn : có tâm hồn khiết tịnh( tinh khiết và thanh tịnh)! Phải hiểu hai chữ "pure in heart" trong mạch văn Phúc Thật như thế nào?
Hầu hết các nhà chú giải Kinh Thánh hiện nay đều đồng ý là từ ngữ:"pure in heart" hay khiết tịnh nơi đây, trong "Mối-Phúc Thứ Sáu" nầy không mang ý nghĩa như một điều kiện tiên quyết phải đặt ra, nghĩa là phải có trái tim khiết tịnh trước, rồi mới được trông thấy Chúa sau, ví như bạn phải có bằng tú tài như điều kiện để bước vào ngưỡng cữa của đại học! Sự khiết tịnh của tâm hồn được hiểu ở đây những đặc điểm của cá tính mà Thiên Chúa đã ban tạng, đã đặt vào trong hữu thể của ta, để nhờ đó ta có thể hoàn thành viên mãn, có thể phát triển như đặc tính của mình!
Vậy, tâm hồn khiết tịnh là đặc tính Thiên Chúa ban cho ta sẵn, như chiếc aó cưới nhà vua trao ban cho những ai vào dự tiệc cưới Thiên Quốc! Nghĩa là Chúa trao ban trước cho ta những gì cần thiết , với những đặc tính đó, chúng ta sẵn sàng để chiêm ngưỡng thánh nhan! Vậy khiết tịnh trong tâm hồn là một khả thể linh thiêng, một quà tặng Thiên Chúa ban nhưng không( given freely) cho con người, cho tất cả những ai là người, với tư cách là người! Là một khả thể thần linh ban cho con người, với điều kiện là con người sẵn ḷng chấp nhận, tạo cho ḿnh có tư thế sẵn sàng đón nhận để món qùa thần linh ấy có thể phát triển, nẫy nở tành một thực tại của tâm hồn! Sự khiết tịnh của tâm hồn, tuy là một khả thể thần linh, là món qùa Thiên Chúa trao ban, nhưng cho phép xảy ra, có hay không là hoàn toàn trong nằm trong tầm tay và trong sức mạnh của ý chí con người. Thiên Chúa không cưỡng bách ta phải chấp nhận món quà tặng của Ngài trao ban!
Chúng ta hãy thử phân tích chu đáo hơn về ý nghĩa hai chữ khiết tịnh" Pure In heart, Mundo Corde”
Trước hết từ ngữ "pure"dịch sang tiếng việt có nghĩa là nguyên chất, tinh ròng, tinh anh, không pha trộn, không lẫn lộn vói các thứ khác, ví dụ khi ta nói: đây là vàng ròng tức là vàng không pha trộn, lẫn lợn với các hợp kim khác, vàng còn trong tình trạng là một nguyên chất! Trái với nguyên chất là hợp chất, tức là đã bị trộn lẫn, nhào trộn với các chất khác để biến nên một thứ hỗn hợp, không còn nguyên vẹn nữa!
Trái tim hay tâm hồn, theo truyền thống Kinh Thánh, được coi như một phần nội tại quan yếu của hữu thể con người! trái tim nói lên một thực thể nội tại đáp ứng những thực tại tâm linh như chân lý, vẽ đẹp, lòng cao thượng, sự thán phục, lòng ngưỡng mộ, và tất cả những huyền nhiệm cuộc sống vây phủ chúng ta mỗi ngày trong cộc đời trần thế nầy! Nếu đặc tính của mắt là nhìn thấy những gì trong được bằng hình ảnh, sắc mầu! Nếu đặc tính của tai là để nghe những âm thanh, tiết tấu trầm bỏng của âm nhạc và các âm hưởng trong cuộc sống, thì nét đặc thù của trái tim, của tâm hồn là để đáp ứng thực tại linh thiêng mà tứ ngũ quan không thể cảm nghiệm được! Tâm hồn hay con tim là nguyên khởi của sức mạnh giúp ta nhận thức thực tại với tất cả toàn thể tính của chúng! Khi ta ghép hai chữ lại với nhâu, nối kết hai tư tưởng lại thành một trong câu nói:"pure in heart"khiết tịnh trong tâm hồn, hay tâm hồn trong sạch, câu nói sẽ mang đến cho ta một ý nghĩa đặc biệt:"Pure in heart"(Tâm hồn khiết tịnh)
Sự khiết tịnh của trái tim, của tâm hồn, nghĩa là trái tim là trái tim, để tâm hồn là tâm hồn, không hơn, không kém. Một trái tim khiết tịnh là trái tim được tạo nên để yêu thương, là trái tim cởi mở ra cho những thực tại sâu thẳm nhất của cuộc sống! Trái tim yêu thuơng bằng một tình yêu đơn thuần yêu thương, không vụ lợi hay vì bất cứ một nguyên do nào ngoài ý nghĩa của tình yêu: yêu thương bằng tình yêu đệ nhất!
Nói tóm lại, người có tâm hồn khiết tịnh sẽ nhìn sự vật với tất cả sự ngạc nhiên thích thú, nghĩa là nhìn với tất cả tâm hồn, nhìn như chưa bao giờ nhìn thấy, và yêu như chưa bao giờ biết yêu!
Nh́n Thế Giới Với Tâm Hồn Trẻ Thơ
(Conversi fueritis et efiiciamini sicut parvuli, Mat.19 :3-4)
Cậu bé học sinh tiểu học đọc chuyện con sâu biết thành con bướm, cậu ta mong ước có ngày mình được chứng kiến cảnh tượng sâu thành bướm. Rồi một bgày cậu kiếm được con sâu bướm bỏ vào hộp nâng niu không cho ai đụng tới vì sợ làm hư mất chuyện mạo hiểm của cận. Suốt cả tuần lễ, từ khi có cái hộp và con sâu bướm, cậu bé không lúc nào ngớt quan sát tiến trình sâu thành bướm. Ngày kia cậu thấy trên mình sâu có mọc đôi cánh thật xin, rồi thì mầu sắc rực rỡ trang điểm cho toàn thân con sâu, và trongmột thời gian nhỏ, không còn là con sâu nữa, nhưng đã hoá thành con bướm vàng với sắc mầu rực rỡ! Cậu sung sướng chạy và kêu bố và cho bố thấy sự lạ lùng" con bướm vàng" tuyệt diệu! Người bố chẵng tỏ ra chút hứng thú gì, chỉ bểu môi với cậu bé: lạ gì con bướm biến dạng từ con sâu, có gì lạ đâu mà coi! Trước thái độ và cử chỉ lạnh lùng đó của ông bố, cậu bé không biết làm gì hơn là đưa hộp con bướm về phòng ngắm một mình!
Câu chuyện nho nhỏ trên cho ta một khái niệm về sự khiết tịnh trong tâm hồn: Cả cậu bé và bố cậu nhìn thấy sự kiện với bằng con mắt và tâm trí, nhưng cậu bé còn nhìn sự kiện với tất cả trái tim! Chỉ mình cậu bé có cảm nghiệm về sự lạ lùng"sâu hóa bướm". Người bố không đi vào thế giới cảm nghiệm sự lạ lùng, không có kinh nghiệm về "wonder", cho nên ông ta chỉ nhìn sự kiện với con mắt thịt, nhưng không cảm thấy cái gì đằng sau đó, ông đã mất cảm quan của trái tim về những sự"nho nhỏ"( the little things) trong cuộc đời, không còn thì giờ cho con tim được cảm những gì trái tim đang mong đợi cảm nghiệm! Tôi thiết nghĩ, đó cũng là lý do khi Chúa thách đố các môn đệ hãy trở nên bé nhỏ, hãy tái sinh, hãy có trái tim tinh khiết như trẻ em mới có thể vào Nước Trời!
“Amen dico vobis: Nisi conversi fueritis et efiiciamini sicut parvuli, Non intrabitis in regnum caelorum » (Mat.19 :3-4)
Lớn lên trong cuộc đời, vì bị chi phối bởi biết bao lo âu phiền muộn, nhiều khi chúng ta, những người lớn, đã đánh mất những gì là tinh anh của trái tim, nét tinh anh đệ nhất đó là cảm nghiệm những sự lạ lùng của nhịp sống phong phú quanh ta, những phép lạ mà Thiên Chúa vẫn thực hiện hiện trong cuộc đời ta và trong lòng thế giới !
Mối Phúc Thật Thứ Sáu, phân tích đến cùng, có ý nhĩa nầy: là chúng ta hãy để cho Thiên Chúa tái phục hồi tình trạng nguyên thủy tuyệt vời, khi mà ta nhìn mọi sự với tất cả tấm lòng, tất cả trái tim của ta! Một trong những yếu tố tuyệt vời về trẻ nhỏ tức là sự chúng hoàn toàn cởi mở với cuộc đời: không đề phòng, không che dấu, không ngụy tạo, không dả dối, không ba hoa, kênh kiệu, không mang mặt nạ, không làm bộ, không gỉa thiết! Chúng để hết trái tim vào một biến cố nhỏ bé như xem con sâu hóa kiếp thành con bướm với tất cả sự tò mò ngạc nhiên thích thú! Khi đời ta không còn chỗ cho ngạc nhiên"wonder", đời ta coi như đã chết, dù hãy còn sống!
Muốn nhìn thấy Thiên Chúa hãy để trái tim là trái tim, nghĩa là hãy để cho lòng trí ta cởi mở với những huyền nhiệm cuộc đời. Khi đó chúng ta mới nhận ra ý nghĩa lời tuyên dương của Chúa:
"Phúc thay cho ai có tâm hồn khiết tịnh, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa"
" Beati mundo corde, quoniam ipsi Deum videbunt” (Mat. 5:8)
Ư Nghĩa Trong Sạch trong truyền thống Kitô giáo
Chúng ta biết và tin rằng những điều Chúa phán dạy trong Tám Mối Phúc Thật, có liên quan và áp dụng trong cuộc sống của chúng ta! Tất cả những ai đã được sinh ra và giáo dục trong gia đình, trong môi trường đạo hạnh theo truyền thống kitô giáo, đều hiểu lời Chúa dạy: khiết tịnh trong tâm hồn hoặc tâm hồn trong sạch.
Mối Phúc Thứ Sáu theo lối dịch xưa "Ai có lòng trong sạch, ấy là phúc thật" được đa số coi như sự trung thành tuân giữ giới răn thứ saú và giới răn thứ chín, tức là: " Chớ làm đều dâm dục, Chớ muốn vợ chồng người)! Đã có một thời, quan niệm về tội rất mơ hồ lẫn lộn, cho nên khi nói về tội phạm đến giới răn thứ sáu, và thứ chín, người ta nghĩ ngay đến tội chống lại với nhân đức trong sạch. Người ta quan niệm rằng ai giữ được hai giới răn trên sẽ được kể là cao trọng trên Nước Trời!
Tuy nhiên, Mối-Phúc Thứ Sáu, cũng như các Mối-Phúc khác, được coi như một lý tưởng, một mẫu mực của đời sống Kitô giáo, vì thế đòi hỏi chúng ta cần có một hiểu biết sâu rộng hơn, trong một ý nghĩa thích hợp hơn, nhất là đối với từ ngữ “Trong Sạch, Khiết tịnh”!
Trong đời sống thường nhật, và trong câu chuyện đối thoại hằng ngày, khi nói về một vật gì, một đều gì tinh anh, trong sạch, chúng ta nghĩ đến vật đó, đều đó trong tất cả vẻ nguyên tuyền tinh anh toàn vẹn của nó, nó là nó, tất cả chỉ có nó mà thôi, không có chi pha trộn, xen lấn, hoặc nhào lộn vào nó! một vật gọi là trong sạch tinh anh, có nghĩa là nguyên tuyền, toàn vẹn, không tỳ ố, không vết nhơ, không hỗn tạp, không lẫn lộn. vàng ròng là vàng không pha trộn, không lẫn với các kim khí khác, nó là vàng ròng. Đặt chữ tinh khiết, trong sạch trong toàn câu:"Những ai có tâm hồn trong sạch khiết tịnh", chúng ta nhận thấy rằng: Sứ điệp của Chúa sâu xa hơn, đòi hỏi hơn, cao xa hơn là hai giới răn thứ sáu và giới răn thứ chín( không làm đều tà dâm, không muốn vợ chồng người)!
Đọan văn sau đây trích từ sách Cách-Ngôn cho ta thấu triệt hơn về ý nghĩa của sự trong sạch tâm hồn, từ ngữ trong sạch trong tâm hồn, sau nầy được Chúa Kitô xử dụng, và các thính giả nghe Chúa đã hiểu Ngài muốn nói gì, tác giả Cách Ngôn viết như sau:
"Hỡi con, hãy chú tâm vào lời ta,
Hãy lắng tai nghe lời ta giải bày!
Chúng đừng rời khỏi mắt con,
Vì chính tự nó sự sống phát ra;
Và hãy giữ lấy chúng tự đáy lòng con!
Bởi chúng là sự sống cho những ai tìm thấy chúng!
Và sức khỏe cho mọi thân xác (Prv. 4:20-24).
Cũng trong một văn mạch và ý nghĩa, Chúa Kitô qủa quyết tuyên bố:" Phúc thay kẻ có tâm hồn trong sạch". Thính giã của Ngài biểu biết ngay: sống Mối Phúc nầy, sẽ ảnh hưởng đến toàn thể cuộc đời của họ! Người Do-Thái nghĩ đến trái tim, hoặc tâm hồn, như suối nguồn của sự sống, là trung tâm của tư tưởng và ý chí.
Nói cách khác, tâm hồn tượng trưng cho toàn thể con người, với tư cách là một nhân vị! Chính tâm hồn quay trở về với Chúa trong ăn năn thống hối! Chính tâm hồn yêu Chúa trên hết mọi sự, và thực thi thánh ý của Ngài! Tâm hồn chúng ta được Chúa tác thành, và như thế một tâm hồn khiết tịnh, trong sạch là tâm hồn được lấp đầy hình ảnh và tình yêu thương của Chúa, chỉ có Chúa mà thôi siêu ưu tiên trên mọi tình yêu tạo vật khác.
Khi ta dành riêng tâm hồn mình cho một loài thụ tạo khác hơn Chúa, tâm hồn như thế đã đi hoang, đã ngoại tình, đã lạc xa đường nẻo của Chúa! Khi Chúa là đối tượng duy nhất cho tâm hồn ta, lúc đó tâm hồn trở nên đơn thuần, tinh anh, trong sáng tuyệt vời tâm hồn được Chúa lấp đầy sẽ luôn qui hướng về Chúa, như hoa hướng dương luôn xoay về hướng mặt trời. Một tâm hồn lấp đầy Chúa, được gọi là tâm hồn có Chúa là tâm điểm, luôn luôn nhìn theo đường lối của Chúa, đặt trọng tâm vào Ngài, và cuối cùng sẽ chiêm ngưỡng thánh nhan Ngài!
Để có một tâm hồn qui hướng về Thiên Chúa, ta cần có sự am tường, yêu mến sâu xa và một cuộc sống kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và các giá của Ngài qua lời cầu nguyện, và chiêm niệm về cuộc đời của Ngài! Một khi có tâm hồn qui hướng Thiên Chúa và sống kết hợp mật thiết với Chúa kitô, ta bất đầu nhìn thấy sự tương phản giữa cách định lượng gía trị của Thiên Chúa trái ngược với bậc thang gía trị trần gian! Sống trung thực qui hướng về Thiên Chúa cũng có nghĩa là sống ngược lại với triều hướng tư tưởng cà cách sống của trần thế!
Khi người kitô hữu thâm tín được chân lư Phúc Âm và có một cuộc sống trung thực với sứ điệp Lời rao giảng của Chúa Kitô, cần phải đi ngược giòng tư duy và cách sống thế tục! Tư tưởng đi ngược giòng có thể làm cho nhiều người khiếp sợ nhát đảm, vì e ngại mình sẽ bị loại ra rìa, hay sống bên lề cuộc sống! Sống ngược giòng với thế tục không có nghĩa là sống lạc loài, sống cô đơn tách biệt khỏi nền văn hóa và nhịp văn minh của thời đại mình đang sống! Phúc Âm của Chúa Kitô là sứ điệp nhập thể và nhập thế, không cho phép chúng ta trốn chạy trách nhiệm gánh vác việc đời và sự cần thiết sống ở đời và sống với người khác! Cũng không phải là ta tự ý quyết định mình đứng bên lề cuộc đời!
Đi ngược lại với giòng đời là một tiến trình lâu dài, trong tiến trình đó,tâm hồn qui hướng Chúa , được Chúa Thánh Linh soi sáng hướng dẫn đi những bước thật khiêm tốn để loại trừ gạn lọc những gì không hợp với tinh thần Phúc Âm! Chẳng hạn như khi người tín hữu nhận thức được Chúa Kitô sống một cuộc đời đơn sơ nghèo khó, Ngài chú tâm đến con người, đến những gía trị siêu nhiên giúp con người lướt thắng cuộc đời cơm áo, tiền bạc ô trọc tầm thường, Ngài chú trọng đến phẩm gía và sứ mệnh con người nhiều hơn là đến thực thể vật chất, như những ngoại thân thứ yếu! Dưới ánh sáng của sự nhận thức nầy, người tín hữu thấy mình đang ở giữa sự dằng co của một trào hướng văn minh thị trường tiêu thụ, lòng khao khát ước muốn chiếm hữu và hưởng thụ thật nhiều, tìm kiếm thỏa mãn lòng tham lam thụ hưởng là một đều nghịch lại với tinh thần khắc kỷ, khó nghèo, từ bỏ và siêu thoát của Chúa!
Tuy sống giữa một xã hội văn minh phồn thịnh với bao quyến của xa hoa, trụy lạc, hỗn tạp, rắc rối của dục vọng, nhưng người môn đệ Chúa tự nguyện quyết định sống một cuộc đời đon sơ nghèo khó, để tâm hồn qui hướng vào những gía trị thiêng liêng có thể năng lòng trí mình lên cao hơn, đạo đức hơn, lành thánh hơn! Cố gắng duy trì nguồn năng lực ngõ hầu có đủ sức lực tạo nên một kiểu sống lành mạnh, đi ngược vối trào hướng tính sa đoạ của xã hội, đồng thời cọng tác với Thầy Chí Thánh trong việc mang ơn cứu rỗi cho nhân loại!
Một khi đã dấn bước đi vào con đường của Chúa Kitô, tâm trí người môn đệ sẽ thoát khỏi những ràng buộc của thế tục và của dục vọng, tâm trí được tự do hơn, có năng lực siêu nhiên hơn, và dễ dàng hơn trong việc qui hướng về Thiên Chúa! Một tâm hồn trong sạch, một trái tim khiết tịnh nguyện cầu để biết thánh ý Chúa, ngõ hẩu trung thành vâng theo trọn vẹn, như thế, tâm hồn được ở mãi trong nguồn suối yêu thương, ơn thánh sẽ tuôn tràn đến vô tận! Được sống bằng cuộc sống thần linh, tâm hồn có thể kêu lên như Thánh Phaolô xưa:
" Cuộc sống mà tôi sống đây, không còn phải là của tôi nữa, tôi không còn sống riêng tôi, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi”!
“Vivo autem iam non ego, vivit vero in me Christus; quod autem nunc vivo in carne, in fide vivo Filii Dei, qui dilexit me et tradidit seipsum pro me. (Ga. 2, 20)
Khiết Tịnh Tâm Hồn, Điều Kiện Qui Hướng Thiên Chúa
Như trên đã nói, khi tâm hồn khiết tịnh qui hướng về Chúa, sẽ trung thành vâng theo thánh ý của Chúa! Nhưng thế nào là Thánh-Ư của của Chúa? Đã có rất nhiều cách giải thích về thánh ư Chúa: có cách giải thích chủ trương Thánh Ư Chúa giống như một thứ sơ đồ(plueprint) của kiến trúc sư mà Thiên Chúa đã an bài cho đời của mỗi một người từ lúc sinh ra cho tới khi chết! Trong văn mạch của chủ trương nầy, tìm biết Thánh-Ư có nghĩa rất đơn sơ là khám phá ra bức sơ đồ đó như thế nào, rồi cứ thế mà theo từng chi tiết đã được Chúa vạch sẵn! Như ngườ thợ xây nhà, cứ nhìn theo họa đồ có sẵ của kiến trúc sư mà xây! Có chủ trương khác cho rằng tìm thánh ý Chúa là một cọng tác của ta mỗi ngày với Chúa, vì Đấng Tạo-Hóa vẽ bức sơ đồ không phải một lần cho tất cả, nhưng Ngài cùng sáng tác bức hoạ đồ ấy với ta mỗi ngày trong đời sống của ta! Chính những gợi ý của Ngài thúc bách ta tiến tới từng bước một tiệm tiến theo giòng thời gian. Cứ mỗi lần ta đáp lại tiếng mời gọi và gợi ý của Ngài, Ngài lại khuyết khích ta theo một sáng kiến mới, Ngài luôn tỏ ra hiền dịu nâng đỡ ta từng bước đường đời ta đi, từng nổ lực nhỏ trong ý chí chu toàn định mệnh của đời ta! Đấng Sáng Tạo không bao giờ ức chế ta, bắt buộc ta bằng cưỡng lực phải theo đường lối của Ngaài. Ngài kính trọng tự do và sáng kiến của Ta. Bởi vì sự khởi nguyên gợi ý của Chúa thật ênm đềm nhỏ nhẹ tự như tiếng gió thì thầm, như nhạc hứng vấn vương rong gió, ta cần phải lắng đọng tâm tư, phải lên cung đàn của mình mới hòng bắt nổi làn sóng âm thanh kỳ diệu của Ngài, như người biết xử dụng máy truyền tin, phải biết tần số của tổng đài mới bắt nổi nguồn phát tuyén! Chúa thật sự hành động trong đời ta nư thế đó! Muốn lắng nghe tiếng thì thào của thần linh Chúa nói với tâm hồn, ta càn lắng nghe trong nguyện cầu chiêm niệm, vì Kinh Thánh dạy: " Chúa chỉ nói nơi im lặng. Thinh Lặng là điều kiện, là chốn hẹn hò để nghe tiếng nói của Thần Linh Chúa! Nếu trong tất cả thời gian dành cho nguyện cầu, mà ta qúa nhiều lời, qúa đa ngôn trước sự hiện diện của Thần Linh, ta đã không cho chúa có cơ hội mặc khải chính mình Ngài, không để Ngài có thời giờ để vén bức màn bí măậrt của Ngài cho ta!. Thành ra, thay vì nguyện cầu để tìm gặp Chúa, ta lại dùng cầu nguyện để độc thọai, và tìm gặp chính con người tham lam trần tục của mình !
Một trái tim biết lắng nghe, và một ý chí muốn chờ đợi Thiên Chúa và thời giờ của Ngài, càn phải tập sống Mối Phúc Thật, nghĩa là cần có một trái tim thanh tịnh, bình an, không gợn sóng bởi đam mê, không bị vẫn đục bởi dục vọng, nói tắt, cần có một tâm hồn trong sạch tinh tuyền, một ý chí không động vọng!
Nếu chúng ta biết lắng nghe và chờ đợi, chúng ta sẽ nhận diện ra Ngài trong những khát khao Ngài đã đặt vào trong tâm trí ta, trong những hoàn cảnh, những trạng huống ta gặp trong đời sống, trong lời khuyên nhủ, sửa bảo của tha nhân, nhất là những ai có trách vụ giáo hóa ta, trong những thúc bách giúp đỡ tha nhân, và sau cùng, trong đà tiến tới chân lý, tình yêu và sự giao hòa với Chúa và với tha nhân! Cứ mỗi lần ta làm một chọn lựa trong cuộc sống, sự lựa chọn ấy sẽ trở nên hậu trường cho lời mời gọi kế tiếp của Ngài! Mỗi lần chọn lựa là mỗi bước nhỏ đưa ta tới gần Chúa hơn! Người biết qui hướng cuộc đời vào Chúa là người biết sẵn sàng để lắng nghe và đáp lại lời mời gọi của Ngài! Tiến trình lắng nghe lời mời gọi của Chúa một cách chăm chú, tạm gọi là một sự nhận thức, biện-biệt! Sự nhân thức, biện-biệt rõ ràng Thánh ư Chúa là một bó buộc thường nhật, một đều ta không thể lẵng quên, vì chúng ta cần xin Chúa ban cho ta cơm bánh hằng ngày nuôi thể xác thế nào, thì ta cũng cần Ngài ban cho ta năng lực thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn!
Cuộc hành trình vạn lý của ta được kết thành bằng từng bước nhỏ lặng thầm, vì thế ta không trông thấy hết được con đường thiên lý dặm tít mù xa xôi! Đó là lý do làm cho ta nhiều khi cảm thấy mịt mùng chán ngán, nghi nan không biết mình có phải là người qui hướng vào Chúa chăng! Nếu ta biết kiên nhẫn vâng theo tiếng gọi nhiệm mầu, biết lắng nghe và đáp trả tiếng gọi ta mỗi ngày, với tất cả tâm lòng tín thác vào sự khôn ngoan và lòng nhân lành của Ngài, thời giờ sẽ đến, sẽ có lúc ta nhìn lại quảng đường hành trình đã qua, những chặng đường chông gai chồng chất! ta tưởng như có phép nhiệm mầu nào đã đưa ta qua bao biên ải cuộc đời, những cữa "Thần-Phù" nào đây ta không thể ngờ được sức lực ta có thể hoàn thành được đoạn đường hê gớm như thế! Bây giờ ta mới hiểu ta đang ở đâu! và bàn Tay-Thánh của Ngài đã nâng đỡ giắt diù ta đến phút giây hiện tại nầy!
Tới đây, tôi nhớ lại cuộc đàm thọi của Đức Kitô với người đàn bà xứ Samaritana bên bờ giếng Giacop, trong cuộc đối thọai nầy, Chúa dùng đên biểu tượng giòng nước phát sinh "Nước trường sinh" mang đến cuộc sống muôn đời!:
" Những ai đã một lần uống "Nước" Ta ban, sẽ không còn khát nữa! Và nước ta ban cho, sẽ trở nên nguồn suối trường cửu, trào vọt lên sự sống cho đến muôn thủa muôn đời"!
“Qui autem biberit ex aqua, quam ego dabo ei, non sitiet in aeternum; sed aqua, quam dabo ei, fiet in eo fons aquae salientis in vitam aeternam”. (Jn. 4:14).
Cũng như những nơi khác trong Kinh Thánh Tân Ước, nước là biểu tượng cho Chúa Thánh Linh! Một khi Chúa Thánh Linh tràn ngập tâm hồn ta, lấp đầy trái tim ta bằng sự đơn thuần thanh tịnh, bằng sự trong sáng tinh tuyền, lúc đó, hồn ta sẽ trào dâng lên những táv dđộng qui hướng về Thiên Chúa!
Khi tâm hồn thanh tịnh bình yên, ta có thể cảm nghiệm được hậu qủa của Chúa Thánh Linh tác động, đặc biệt trong những hành vi đột khởi! Bởi vì, khi một người có nhiều thời giờ để tư duy, tìm lý giải đắn đo trước sau, hành vi của người ấy có thể bị ảnh hưởng bởi những tính toan so đo rào đón, có khi bị sự gỉa hình và ngụy tạo, mưu chước thâm độc theo sau như chiếc mặt nạ trá hình! Khi phản ứng có tính cách trực khởi và qui hướng về Thiên Chúa, ta đoan chắc được ngay tư tưởng và hành vi đó đến từ một tâm hồn trong sạch, một trái tim khiết tịnh an bình. Như hình ảnh giòng Nước Trường Sinh, trào vọt lên đến sự sống muon đời!
Chúa Kitô long trọng hứa với chúng ta là :ai có trái tim thanh khiết, ai có tâm hồn trong sạch vẹn tuyền, sẽ chiêm ngưỡng Thiên Chúa! Điều đó có nghĩa :chúng ta không cần chờ đến lúc lên Thiên Đàng mới nhìn thấy Thiên Chúa, hôm nay, và bây giờ ta có khả thể để nhìn thấy Thiên Chúa ngay nơi cõi trần gian! Và Thiên Đàng đã chớm nở nơi dương thế! Chúa đến với ta mỗi ngày! Mỗi gphút! Mỗi giây! Chúa mời gọi ta bước dđi trong hoan lạc an bình với một trái tim thanh tịnh, với một tâm hồn lắng đọng yên bình, khỏi mọi lắng lo trần thế, không bị dục vọng tội lỗi làm nô lệ! Chúa vẫn hiện diện nơi đây, chốn dương gian nầy, ta vẫn có thể gặp Ngài!
Chúng ta nhớ lại trong "Bữa Tiệc Ly", khi Chúa Kitô báo cho các môn đệ là Ngài sẽ bỏ các Ngài để về cùng Chúa Cha!"!
Trong cơn hoảng hốt thần trí lung lay, Philip hớt hả xin Chúa:" Xin tỏ cho chúng con
Chúa Cha, như thế chúng con cũng mãn nguyện lắm rồi"! Chúa trả lời Philip:
" Philip, bất cứ ai trông thấy Ta, thì cũng thấy Chúa Cha" “
Dicit ei Philippus: “ Domine, ostende nobis Patrem, et sufficit nobis ”.
Dicit ei Iesus: “ Tanto tempore vobiscum sum, et non cognovisti me, Philippe? Qui vidit me, vidit Patrem. Quomodo tu dicis: “Ostende nobis Patrem”? (Jn 14:8-9).
Mỗi khi ta đọc Kinh Thánh , mỗi khi ta nguyện cầu để biết Chúa Kitô hơn, yêu mến Ngài tha thiết hơn, đồng thời, chúng ta đã thăng tiến khả năng chiêm ngắm Chúa Cha nhiều hơn! Kinh Phụng vụ Thánh Lễ nhắc nhớ ta:" Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mọi chúc tụng và vinh quang qui về Chúa Cha". Chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Cha trong Chúa Kitô , nhờ Chúa Kitô và cùng với chúa Kitô, bây giờ và cho đến muôn thủa muôn đời!
Sau cùng Chúa Kitô hứa với các môn đệ là Người sẽ sai Chúa Thánh Thần xuống ỡ lại với họ:
" Và Ta sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Bầu Chữa Khác, đ28 Ngài ở với các con luôn mãi! Thần Khí Sự Thật, thế gian không thể lĩnh nhận, vì thế gian không thấy, cũng không biết ngài!
« Et ego rogabo Patrem, et alium Paraclitum dabit vobis, ut maneat vobiscum in aeternum, Spiritum veritatis, quem mundus non potest accipere, quia non videt eum nec cognoscit. Vos cognoscitis eum, quia apud vos manet; et in vobis erit. ( Jn 14 16-17).
Một khi chúng ta có Chúa Thánh Thần ngự trong lòng, chúng ta có thể nhìn thấy Thiên Chúa và hành động của Ngài nơi tha nhân quanh ta. người không có niềm tin vào chúa, khi nhìn đồng loại, họ chỉ nhìn thấy khuyết điểm, hư đốn, sự dữ và tội lỗi!
Còn người có trái tim khiết tịnh, có tâm hồn thanh tịnh nhìn thấy sự thiện hảo tốt lành của Thiên Chúa quang toả nơi tha nhân! Với những ai chấp nhận và thực hành "Mối Phúc Thứ Sáu", Thiên Chúa trở thành hữu hình trong các loài thọ tạu của Ngài!
Một người bắt đầu tìm lại được nét hồn nhiên đơn sơ của bé thơ, sẽ ngỡ ngàng thán phục một cách sung sướng cảnh mặt trời lặn với ánh vàng rực rỡ ở chân trời tây, ngây ngất nhìn bông hoa nở tuyệt vời hay nghe tiếng chim líu rộn ràng chào bình minh tươi sáng! Một người có con mắt hồn nhiên của trẻ tho, sẽ ngỡ ngàng lý thú trước mọi tạo vật của Thiên Chúa!
Ngay cả trong những thảm cảnh ghê rợn, hãi hùng, Thiên Chúa cũng hiện diện ở đó nữa! Và người có trái tim khiết tịnh nhìn ngắm một thân xác rã rời treo trên thập tự giá, và nhìn ra được vẽ đẹp rực rỡ của Thần Linh! Nhìn được nơi cây khổ giá là biểu tượng của tình yêu, là suối ngưồn ơn thánh sủng, và là Ngài toà Con Thiên Chúa!
Ư Nghĩa "Trong-Sạch" Trong Truyền Thống Do-Thái
Đám đông quần chúng phản ứng thế nào trước lời tuyên dương"phúc cho ai có tâm hồn trong sạch"?
Trong bối cảnh truyền thống văn hóa Do-Thái, và vào thời điểm Chúa rao giảng Tin Mầng, tuyên dương "Phúc Đức" cho "trong sạch trong tâm hồn", không phải là một lời dễ phát biểu, dễ được chấp nhận, nhất là đối với quần chúng Do-Thái, một dân có truyền thống tôn giáo pha trộn sắc thái văn hóa dân tộc từ bao nghìn năm lịch sử.
Lời tuyên dương đó không phải là một lời ngây thơ, vô tội vạ, tốt đẹp, nhưng mang đến cả một giáo thuyết hoàn toàn mới lạ, nếu không muốn nói là cách mạng đối với truyền thống tôn vốn khắc khe, thủ cựu, cuồng tín của dân Do-Thái! Chủ trương " Trong Sạch Trong tâm Hồn" được chúc phúc, là một chủ trương táo bạo, trái với luật lệ được lưu truyền lâu đời! Phong tục cổ truyền Do-Thái ghi chép thật tỷ mỷ về cách thức thanh tẩy, các nghi thức cử hành việc thanh tẩy đã được lưu hành trong dân gian từ từ đời nọ đến đời kia, cha truyền con nối như thế trong suốt dọc giòng lịch sử của dân tộc!
" Trong sạch trong tâm hồn" là một điều mới mẻ, nghe xa lạ đối với não trạng và thực hành dân Do-Thái! lần đầu tiên khi nghe Chúa Kitô tuyên dương sư"trong sạch trong tâm hồn", chắc quần chúng đã mở to đôi mắt ngạc nhiên khó hiểu!
Hãy lần mở những trang Kinh Thánh Cựu Ước để tìm xem truyền thống Do -Thái đă tin và thực hành những gì, và họ quan niệm ra sao về ý tưởng "Trong -Sạch".
Sau đây là một vài ví dụ cụ thể lấy trong sách Lêvi: Chẳng hạn: Có vô số luật lệ về những loài vật nào được phép ăn, những loại nào khôngđược phép ăn. Người Do-Thái được ăn thịt các loài súc vật, nhưng không được phép ăn thịt lạc đà, thịt chồn, thịt thỏ rừng và thịt heo!(Lev.11: 2-8). Họ được phép ăn cá, nhưng không phải bất cứ loại nào trong sông, ngài biển đều được phép ăn cả đâu, chẳng hạn như loại nào không vi không vảy thì không được đụng tới!(Lev. 11:9-12).
Họ có thể ăn châu chấu, dế và cào cào, nhưng không được phép ăn các loài côn trùng khác!(Lev.11:20-23)! Khi ăn sai loài vật, ngay cả việc đụng đến các vật đó cũng làm ccho người ta trở nen ô uế! Con thằn lằn rớt xuống nồi niêu xong chảo và chết trong những thứ đó, các vật dụng ấy trở thành ô uế, mà nếo ai nấu nướng gì trong những thứ ấy cũng trở thành dơ bẩn. Vậy tốt hơn hết là đập vỡ và quăng đi, không dùng nữa để tránh ô uế!( Lev. 11:29-35).
Người đàn bà được coi như ô uế trong suốt thời gian kinh nguyệt! Nếu người đàn bà sinh con trai, bà ta coi như là ô uế trong bảy ngày, bà ta phải qua một thời kỳ thanh tẩy kéo dài ba mươi ngày, trước khi được bước vào cung thánh hay chạm đến các đò thánh! nếu như người đàn bà sinh con gái, bà ta bị coi như o uế trong mọt thời gian là bốn mươi ngày, còn thời gian phải chịu thanh tẩy là sáu mươi sáu ngày!(lev.12:1-5). Sau thơi gian thanh tẩy, luật bắt người đàn bà phải mang đến một con chiên tròn một năm cho thầy tư tế để dâng lễ toàn thiêu, thêm vào đó, phải đem đến một cặp chim câu để dâng lễ đền tội!(lev.12:6)! Người nào bất luận nam nữ, nhận thấy trên da thịt mình mọc những mụt nhọt, phải đi trình iện với thầy tư tế ngay để được khám nghiệm, nếu thầy tuyên bố đó là phong cùi, thì người ấy bị tuyên cáo là ô uế, và phải chịu đặt dưới luật lệ dành cho người bị phong hủi! Để cho dân chúng biết mà tránh, người bị phong hủi phải mặc áo quần rách rưới, để tóc xỏa xuống phủ lấy mặt mày, lấy tay che môi lại khi có n gười bước toới gần mình, miệng phải la lớn lên: "ô uế, ô uế"! Phải sống riêng một nơi ngoài nuí rừng, xa lều trại, hay thành phố.(Lev.13:1-46).
Nếu xảy ra một người không bị bệnh phong hủi, hoặc bệnh phong hủi đã lành sạch, luật lệ cho phép người đó trở lại đời sống bình thường, nhưng buộc thầy tư tế phải cản thận khám nghiệm người đó ngay ở ngoài lều trại, hoặc thành phố, đòi phải có một cặp chim sống, một con sẽ phải giết trong bình bằng sành, trên giòng nước chảy, còn con chim kia thì được nhúng và trong máu, người sẽ được coi là lành bệnh được rảy nước máu bảy lần, sau đó được công bố là lành sạch, còn con chim còn sống thì được thả bay đi! Ngược được được lành sạch phải giặt giũ quần áo, cắt tóc ngắn, tắm rửa sạch sẽ, rồi mới được trở lại lều trại!( Lev. 14:1-9). Vẫn chưa xong! Vào ngày thứ tám, người đó phải mang đến hai con chim đực và một con chiên cái hoàn hảo sinh trong năm, ba phần mười bột tinh làm lời cúng và một lon dầu, tư tế làm phép tẩy uế, trình diện người được tẩy uế cùng với lễ vật trước nhan Yahvé, nơi cữa Trưóng Tao-Phùng. Tư tế lấy một con chiên tiến dâng làm lễ đền tội cùng với lon dầu, ngài sẽ bái dâng chúng làm lễ cúng vái trước nhan Yahvê cầu cho sự thanh tẩy nội tam của người ấy! Trong tiến trình dâng cúng lễ tế nầy, thầy tư tế đổ một phần dầu nơi tay trái của mình, còn tay phải, người rẩy bảy lần trước nhan thánh Yahvê đồng thời dể một ít dầu vào tai người được thanh tẩy, đoạn nơi ngón ngón cái củ tay phải, và nơi ngón cái của chân phải, sau cùng trút số số dầu còn lại lên trên đàu người được thanh tẩy (lev. 14:10-20) Chỉ sau nghi thức thanh tẩy rườm rà như thế, bệnh nhân được công bố cho đại chúng biết người đó được hoàn toàn thanh tẩy!
Ta hãy tưởng tuợng xem, với một não trạng vị luật, vị truyền thống, vị phong tục tập quán rất câu nệ và phiền toái như thế, chắc chắn có cả một làn sóng kinh ngạc gợn lên trong lòng các thính gĩa Chúa, khi họ nghe Ngài tuyên dương:" Phúc thay cho những ai trong sạch trong trong tâm hồn, vì họ sẽ trong thấy Thiên Chúa"!
Không cần toàn quyền Philatô phải can thiệp, xét xử!
Không cần Herođê phải chất vấn hạch sách!
Không cần đầu mục Caipha và các bô-lão phải họp công nghị khẩn cấp nữa!
Không cần đưa các nhân chứng, và những tranh luận rườm rà lôi thôi!
Chỉ từng ấy thôi: với chủ trương "trong sạch trong tâm hồn", không cần gì khác nữa! Cơ-cấu mới của "Nước Chúa" đương đầu với một hệ thống luật pháp do nhóm luật sĩ và phái Pharisêu cầm đầu!
Từng ấy thôi, cũng để bắt Chúa điệu đi đóng đinh vào thập tự gía! Vì Ngài dám lên tiếng chủ trương đi ngược lại cả một hệ thống pháp luật tồn tại hằng bao nhiêu thế kỷ! Hệ thống pháp luật nầy, đối với mhóm luật sĩ và Pharisêu, là chính cuộc sống!
Để thấu triệt tính cách mới mẻ và táo bạo của giáo thuyết của Chúa Kitô, đồng thời tìm hiểu phản ứng của nhóm Phrisêu và luật sĩ, chúng ta, một lần nên đặt lại câu hỏi về ý nghĩa của" Trong sạch trong tâm hồn"
Trong Sạnh Trong Tâm Hồn
Chữ "trong-sạch" trong tiếng Hy-lạp gọi là katharos, nghĩa là tinh-tuyền, không tỳ vết. Trong bản dịch Bảy-Mươi, Kinh Thánh bằng tiếng Hy-lạp, chữ nầy xuất hiện dến 150 lần, cho dầu hầu hết có tương quan đến các nghi thức thanh tẩy theo truyền thống tôn giáo như đã trình bày ở trên! Một phần quan trọng còn lại có liên quan đến cuốn sách ông Job, về phần những người gọi là đến an ủi ông Job tranh luận với ông về những tai họa đổ xuống trên ông và gia đình ông! Trong cuộc tranh luận sôi nổi trên, ông Bilat Shuhite nói với Job rằng nếu ông tinh sạch và công chính, chắc chắn Thiên Chúa sẽ đứng lên nghe lời nguyện cầu của ông(Job 11:4). còn Zophar Naamathe lặp lại biện luận của chính Job cho rằng: lý thuyết của ông tinh tuyền, và ông là người trong sạch trước nhan Chúa(Job 11:4). Cuối cùng Job lên tiếng nói rằng:
" Mặt tôi đỏ nhừ vì những giòng huyết lệ!
Và bóng chết chóc đậu trên mí mắt tôi
Dẫu vậy, tay tôi không làm đều hung ác!
Và lời nguyện cầu của tôi thật tinh tuyền!"
“Facies mea rubuit a fletu,
et palpebrae meae caligaverunt;
attamen absque iniquitate manus meae,
cum haberem mundas preces”. (Job 16:16-17)
Theo một số học giả Kinh hánh thì sách Job là cuốn sách cũ nhất trong các bộ sách của Cựu Ước, có khi trước thời kỳ có những luật lệ về thanh tẩy của dân Do-Thái được ban hành, nếu quả đúng thế, những chữ mang ý nghĩa tinh tuyền trong sạch(pure and clean) là những từ ngũ phổ biến trong dân gian, không có liên hệ gì đến các nghi thức thanh tẩy trong tôn giáo. Những chữ đó có nghĩa là thật sự, trung thực, ngây thơ, hồn nhiên, không bị làm hư hỏng! Ông Bildat liên kết tinh tuyền với chính trực (pure and upright) như đề nghị một đặc tính luân lý giống như của thiên Chúa, đặt nền móng trên đức công chính!
Một thí dụ khác nói về sự tinh tuyền trong sạch được đọc thấy trong Thánh vịnh 24,
bắt đầu bằng nhưng danh từ rất quen thuộc như sau:
Của Yahvê, đất.cùng đều đất chở;
Dương gian, và người ở dương gian
Vì người đã đặt nền móng nó trên đại dương;
Và đóng cừ cho nó trên hà bà!(câu 1)
Tiếp theo đó, tác gỉa Thánh vịnh quay sang đặt những câu hỏi và trả lời những câu hỏi quan trọng:
"Ai sẽ leo lên núi tháng của Yahvê?
Ai là người sẽ sẽ đứng chầu trong thánh điện của người?
Đó là kẻ tay trinh trong, và tâm hồn băng tuyết!
hồn không hướng tới hư không;
không thề, đặt âm mưu phỉng gạt"!(câư 3-4)
Nơi câu (5), Thánh -Vịnh cam kết, những người có lòng trong trắng sẽ được nhận lãnh những chúc lành của Chúa!Điều nầy có thể gợi ý cho ta rằng, Chúa Kitô cùng chung niềm xác tín như Thánh Vịnh, khi ngài tuyên dương Mối-Phúc về lòng trong sạch nầy! Và nếu đây là căn bản của sự chúc phúc, thì chắc Chúa Kitô đã nghĩ đến những người trong sạch vô tội có cuộc sống ngay thẳng chân chính, không để tâm hồn vương vấn những điều phù phiến dối trá, những người mở rộng trái tim kính yêu Thiên Chúa và bác ái với đồng loại! Đó là nhữngngười mà tâm hồn sáng trong ánh ngời hình ảnh Thiên-Chúa, hiền hậu, tốt lành và đáng cho ngưừi đời tín thác!
Những Người Có Tâm Hồn Trong Sạch Bẩm Sinh
Kinh nghiệm sống cho hay, có hai loại người có tâm hồn trong sạch: loại thứ nhất có tâm hồn trong sạch một cách tự nhiên, dường như là bẩm sinh vậy, biến thành như một thứ cá tính tự nhiên, được biểu lộ từ thủa còn thơ-ấu, và tồn tại với con người của họ cho đến mãn đời. Loại thứ hai, có được tâm hồn trong sạch nhờ vào khổ công tập luyện, tu đức, giáo dục của gia đình, ảnh hưởng tôn giáo, học hỏi qua sách vở hay nhờ ảnh hưởng của những người gương mẫu! Nhiều khi nhờ ơn soi sáng siêu nhiên qua những biến cố đặc biệt xảy ra trong cuộc sống! Những cuộc gặp gỡ ngoại thường với Thàn Linh Thiên Chúa, được tái sinh nhờ đặc sủng ngoại thường!
Bàn về về sự trong sạch hồn nhiên bẩm sinh, ta có thể tìm thấy ví dụ cụ thể nơi nhân vật trẻ Alysoka Karamazov trong cuốn chuyện nổi tiếng:"The Brothers Karamazov” của nhà văn Fyodor Dostoyevsky: Cha của Alyoska là một người rượu chè say sưa và hay đáng đập chửi bới con cái, một người anh của cậu thì hoang đàng, cờ bạc nghiên ngập, hay la cà nơi thanh lâu tửu quán phung phí tiền bạc cho phường đĩ điếm, còn người anh khác của alyoska lại rất thông minh nhưng gay gắt với hết mọi người, anh ta lạnh lùng, cứng cỏi, lại hay lý sự gàn, ưa đầu lý, bắt bẻ và gây sự với người chung quanh! Cả gia đình chỉ có cậu Alyosha là còn đơn sơ, hồn nhiên, sáng suốt, cậu thường bít tai làm ngơ trước những lời lẽ, ngôn ngữ thô tục chung quanh cậu, nhưng luôn tỏ ra hòa nhã và thiện cảm với mọi người trong gia đình. Dostoyevsky viết về cậu như sau:
" Khi Alyosha vào khoảng hai mươi, cả nhà bố cậu hầu hết trở nên sa đọa, trụy lạc, chỉ còn Alyosha là còn trong trắng, tinh tuyền như thủa nào, khi không thể đương đầu với tình trạng không tốt đẹp, cậu thường lẳng lặng rút lui váo nơi yên tĩnh,nhưng chẳng tỏ ra dấu nào là khinh bỉ hoặc lên án người khác!(The brothers kalamazov, trans, Constance Garnett, new York : Modern library, 1950, p. 17).
Có những người hồn nhiên trong trắng, tốt lành bẩm sinh, họ như những bông hoa đồng nội, tươi tốt tự nhiên: lời nói, hành động và cả con người của họ như mang theo hương hoa của trời đất quang tỏa chung quanh một thứ hương thiên nhiên ngạt ngào, làm cho người chung quanh phải tự tìm đến! Bí quyết của sự tốt lành hiền dịu chính là sự khiết tịnh của tâm hồn, như tấm gương phản chiếu một bầu trời an bình thánh thiện
Có một hấp lực lạ lùng như từ trường thu hút kim loại, người đời, ngay cả những kẻ mà xã hội coi như hèn mạt nhất, cảm thấy bị chinh phục, được cải hoá biến đổi tự trong lòng nhưng không biết tại sao? Thật là khó khi phải mô tả hay lý giải về sự ảnh hưởng kỳ lạ của những người trời cho hồn nhiên trong sạch đối với đồng loại!
Trong một chuyến du khảo tại Nhật-Bản cách đây mấy năm, tôi có cơ hội được viếng thăm Kyoto, một thành phố cổ kính trầm lặng của nước Nhật, nơi mà bầu khí như khi nào cũng phảng phất mùi hương nhang của chùa chiền cổ miếu: người ta vẫn thường gọi Kyoto là thành phố quang tỏa đạo Phật.Nhưng bên cạnh vẻ thâm u cổ kính trầm lặng đó, Kyoto vẫn để thấy những ảnh hưởng không mấy tốt đẹp của một nền văn minh đồi trụy, của một cuộc sống vắng bóng đạo nghĩa và tình người!
Biết tôi mong có cơ hội để tìm hieểu về Thiền Học, người bạn dđồng nghiệp Phân khoa Triết Học tại đại Học Sophia mời tôi tới xem một cuốn phim về tình cảm xã hội tại môt rạp hát tại trung tâm thành phố! Đó là cuốn phim nói tiếng Nhật, với phụ đề Anh Ngữ. Cuốn phim có nhan đề là "Một Thoáng Nhìn Vào Hư không":phim bắt đầu mở ra với khung cảnh một vùng đổ nát tồi tàn thuộc ngọai ô Kyoto, và trong cảnh tồi tàn bẩn thỉu rách rưới ấy, có căn nhà xiu veọ từ lâu không ai thèm sửa chữa! Những căn nhà như thế là tổ cho đám người vô gia cư rách rưới ăn xin tìm vào cư ngụ nhất là khi trời bắt đầu trở lạnh! Căn nhà xụp xuệ ngoại ô nầy nay đả trở thành nơi cư trú cho một nhóm người không rõ hành tung, trong số đó có hai tên ăn cắp chuyên nghiệp, một gã an mày gìa nua bẩn thỉu, một người người bệnh hoạn, và một cô người điếm về già! Những người nầy đều là những gia cư bất hợp pháp, nhưng chẳng ai thèm đếm xỉa tới họ! Họ cùng chiếm hữu căn nhà nầy làm gia cư nhưng cuộc sống chung đụng không hẹn hò nầy biến họ thành những người cãi lộn suốt ngày, họ khơng thể chấp nhận nha, nhưng phải cùng chung soóng với nhau dưới một mái nhà, hay nói đúng hơn, họ sống trong một hỏa ngục của loài người tạo nên!
Rồi vào một buổi chiều mùa thu ảm đạm, có vị sư gìa xuất hiện trước cữa căn nhà sập xuệ đó, ông nhất định xin phép được vào nhà! Vị sư già đứng lỳ trước cửa nhà, ông chẳng có gì, ngoài cái bát đựng đồ ăn, và cái chuông nhỏ làm hành trang trong tháng ngày khất thực khắp thành phố! Những ng3ờ trong nhà không ai dám mở cữa cho ông vào vì nghĩ rằng ông là điềm báo không tốt cho cuộc sống khốn cùng của họ! Nhưng vị sư gìa nhất định không rời bước! Cuối cùng họ phải nhượng bộ cho ông vào nhà! Vị sư gìa chiếm một góc tồi tàn trong nhà, rồi lặng lẽ ngồi xuống yên hàn như trong nhà của mình vậy, ông ngồi đó bắt đầu nghe đám ngưừi gia cư cãi cọ chửi bới nhau!
Sau nhiều giờ nhẫn nhục lắng nghe, vị sư mới hiểu nguyên nhân những cãi vạ, những mắng chửi không tiếc lời là tại có người không theo phiên để quét dọn sàn nhà đã quá dơ bẩn. Hiểu được nguyên cớ người ta cãi cọ nhau, vị sư gìa đấng lên đi tìm chủi và bắt đầu quét dọn, lau chùi sàn nhà và các nơi dơ bẩn trong nhà! Từ giây phút đó, bầu khí trong căn nhà xụp xuệ bắt đầu thay đổi:người bệnh hoạn bắt đầu tìm giúp người bên cạnh mình, gã ăn cắp đi tìm cái mền cũ đắp lên cho người bệnh bất toại! Và cô điếm gìa bắt đầu dè dặt trong lời ăn tiếng nói sổ sàng mất nết như cố tật của cô! Người bị te liệt bắt đầu dùng những lời lễ độ hơn đối với bạn mình hoặc bắt đầu quan tâm đến gã ăn mày rách rưới khi bọn ăn cắp chế diễu người khác!
Vị sư gìa chẳng khi nào phê bình chỉ trích, chẳng than phiền ai! suốt ngày ông tỏ ra lịch duyệt, đối đãi tử tế kính trọng, và sẵn lòng giúp đỡ mọi người trong nhà! Khi lão gìa bệnh hoạn hấp hối, nhà sư ngồi bên giường bệnh, nắm tay người sắp chết lâm râm nguyện cầu! Khi vợ ông ta oà lên lhóc than thảm thiết, vị sư yên ủi nâng đỡ tinh thần bà!Ngay trong lúc gã nghệ sĩ không thể tìm được cây sáo thổi tiển đưa người chết, vị sư gìa củng đi tìm cây sáo cho anh!
Rồi một ngày , mấy anh chàng ăn cắp quyết định bỏ nghề xấu xa đi làm lại cuộc đời! họ đi tìm công ăn việc làm lương thiẹn, và những đồng tiền kiếm được đầu tiên, họ để dành mua đồ ăn thức uống cho một bữa tiệc, trong đó họ mời các bạn bè cùng chung căn nhà xxụp xuệ trong đó có vị sư gìa. cô gái điếm bỏ nghiệp cũ, nay đã trở thành người làm công nhật quét dọn nhà!
Cuốn phim kết với một buổi liên hoan! Đó là Ngày Tết Nguyên Đán, những người gia cư trong căn nhà cũ quyết định ăn mầng một cái Tết vui nhất đời của họ, au khi ăn uống, họ cùng nhau ca hát: ai nấy cố trổ hết tài nghệ sẵn có của mình: nhưng có điều đặc biệt là mọi người đều ca hát! Có những người tưởng chừng họ sẽ không còn giây phút nào vui để ca hát, vì qúa nhiều cay đắng sầu muộn! Nhưng tiếng ca hát của họ đêm nay chất chứa đầy tình cảm, thật rung động, thật thấm thía truyền cảm làm co lòng người bàng quang xa lạ cũng xao xuyến ngậm ngùi! Vị sư gìa cũng bắt đầu góp phần, tay ngài bắt đầu rung lên tiếng chuông nhỏ rền vang thanh thót, tiếng chuông khất thực của mọi ngày, nhưng đêm nay, chuông rung lên nhịp điệu thần linh, chấn động gian và xúc cảm lòng người! Với tiếng chuông rung lên từ tay vị thiền sư, cuốn phim cũng từ từ kết thúc trong khung cảnh huyền áo của đêm Kyoto trầm lắng trong đêm nhạt nhoà sương khói!
Sự khiết tịnh của trái tim, sự trong sạch của linh hồn như một âm hưởng, một đồng vọng, hay nói theo kiểu bình dân:" một cái gì hay lây "đối với tập thể. Cổ nhân ta có câu:"Hữu xạ, tự nhiên hương"! Người La Mã xưa cũng có câu:" Bonum diffusivum est"( sự tốt lành tự nó quang tỏa).
Như hương hoa lan toả trong không khí thế nào, sự thiện hảo của người có tâm hồn trong sạch cũng vậy! Thường thường, chúng ta dễ nhận thấy ảnh hưởng tai hại của sự dữ, của tội ác, của gương mù gương xấu đối với tập thể, với cọng đoàn! Nhưng ít có ai nghĩ đến ảnh hưởng tích cực của những người tốt, những người lương thiện, lành thánh, những tâm hồn khiết tịnh đối với nhân quần xã hội! Cuộc sống và gương mẫu của những người nầy gây ảnh hưởng nơi ta một cách âm thầm không nài ép! Và một cách nào đó, họ khích lệ và thách đố ta, sống tốt lành thanh tịnh hơn, đồng thời,
một cách vô ý thức, nhắc nhớ ta là có thần linh đang hiện hữu giữa cuộc đời nhiều tội lụy và nước mắt nầy! Nói khác đi, thần linh đang hiện thân trong những ai có trái tim khiết tịnh, những người có tâm hồn trong sạch!
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nghe Chúa Kitô qủa quyết những người nầy "sẽ nhìn thấy Thiên Chúa!
Khả Năng Tìm Lại Sự Trong Sạch Tâm Hồn!
Kinh nghiệm sống cho ta hay có rất ít trường hợp những người có tâm hồn khiết tịnh bẩm sinh, trái lại, sự trong sạch của tâm hồn có được qua sự trau dồi luyện tập, nhất là nhờ sự phù giúp thiêng liêng của ơn thánh Chúa, đồng thời nhờ gương sáng của những người lành thánh ảnh hưởng!
Khoa tâm lý thực nghiệm ngày nay chứng nghiệm tính cách khả thể của những thay đổi, không những tâm sinh lý mà thôi, mà còn về cả phía tâm linh, là con người xấu vẫn có thể trở nên tốt! Nhưng nhiều trường hợp biến đổi lạ thường khoa học không thể cắt nghĩa tại sao! Người ta gọi là những phép lạ giữa thời iđại văn minh!
Kinh Thánh kể cho ta vô vàn những câu chuyện lạ lùng như thế, nhờ ân sủng và quyền lực của Thiên Chúa! Một trong những chuyện đẹp nhất có lẽ là câu chuyện Cựu Ước nói về trường hợp
phạm tội của Vua David và sự ăn năn hối cải của Ngài: sau cuộc thông dâm ngoại tình với bà Bathsheba, và nhất là sau khi đứa bé kết qủa cuộc ngoại tình vừa mới sinh ra đã bị chết thảm sầu, nhà vua hết sức xúc động, cùng với lòng thống hối ăn năn cao độ đã đưa nhà vua đến cảm hứng viết lên Bài Ca Sám Hối, gọi là Thánh Vịnh 51, một lời thơ kinh chan hoà nước mắt thống hối thời danh được lịch sử thơ văn nhắc nhớ và liệt vào hàng những bài thơ hay nhất trên thế giới, một khúc ca tuyệt vời về lòng thống hối ăn năn mẫu mực cho nhân lọai!
Trong bài thơ kinh sám hối nầy, tác gỉa xin Chúa thứ tha thanh tẩy tội khiên, và xin tái tạo cho một trái tim trong sạch! iòng nước mắt thống hối ngọt ngào bày tỏ cho ta thế nào là ý nghĩa của một tâm hồn khiết tịnh sạch trong:
" Lạy Thiên Chúa, xin thương xót tôi
theo lònh nhân nghĩa của Người,
vì đức từ tâm hải hả;
Xin tẩy xóa tội ác tôi đi!
Lòng tà nầy, xin cọ trắng tinh;
lỗi lầm của tôi, xin Người luyện sạch!
Bởi chưng tội ác tôi, tôi xin nhận!
lỗi lầm của tôi, luôn trước mắt tôi!
Tôi đã xúc phạm đến người, một mình Người,
điêu ác trước mắt Người , tôi đã dám làm;
Ngõ hầu Người thật chí công khi Người tuyên án!
Người sạch trong khi Người xét xử;
Nầy trong tà ác tôi đã sinh ra!
Và đã là tội lỗi khi mới là thai trong bụng mẹ!
Nầy Người muốn s30 thật nơi tâm khảm!
và trong bí mật người dạy tôi cho biết khôn ngoan;
Xin lấy bài hương xóa tội tôi cho tôi nên sạch;
xin phiếu dặt tôi, cho tôi nên trắng hơn cả tuyét băng!
Xin chovang dội tai tôi niềm vui hoan lạc;
cho nắm xương Người nghiền tán lại được reo lên;
Xin hãy nghoảnh mặt đừng bắt tội tôi;
và mọi tà ác nơi tôi xin Người tẩy xóa!
Xin hãy tạo dựng cho tôi, một tấm lòng trong sạch!
Lạy Thiên Chúa
Một khí phách mới, xin đặt vào lòng tôi!
Xin chớ đuổi tôi cách xa nhan thánh người;
Thánh trí của Người, xin chớ cất khỏi tôi!Xin ban lại cho tôi niềm vui ơn cứu độ!
và ứng thêm tiết khí mà chống đỡ tôi;
tôi sẽ dạy cho phường ngỗ nghịch;
để tội nhân trở lại với Người;
vạ đổ máu xin người miễn cho;
Lạy Thiên Chúa, thần tế độ cho tôi;
đức công chính của người lưỡi tôi sẽ reo lên;
Lạy Chúa xin mở môi tôi
cho miệng tôi cao rao lời ngợi khen Người!
Vì người chẳng màng đến của lễ tế;
và toàn thiêu , tôi có dâng lên, Người cũng chẳng nhận,
Lễ tế cho thiên Chúa: tâm hồn bầm tím!
tâm lòng bầm tím và nhiền tán,
y Thiên-Chúa Người sẽ chẳng khinh!
Theo lượng khoan nhân, xin người giáng phúc xuống Sion!
Tường Jerusalem xin người xây lại;
bây giờ Người sẽ vui nhận lễ tế thập thành;
lễ thượng hiến và của toàn thiêu
bây giờ trên bàn thờ ngài bò tơ sẽ nghi ngút dâng hương! ( Ps. 51)
Nội dung Bài Thánh-Vịnh Sám-Hối thật tuyệt diệu, nhưng tư tưởng dẫn đạo còn đáng ghi nhận hơn, trong đó bày tỏ niềm tin của David vào sự tha thứ của Thiên Chúa: tác gỉa thâm tín rằng nếu trái tim thành thật sám hối ăn năn, Thiên Chúa sẽ tẩy xóa hết vết nhơ tội lỗi, và như thế tâm hồn sẽ trở lại tình trạng trắng trong thanh sạch hơn tuyết trắng mùa đông! Thần trí sẽ lại reo mầng ơn cứu độ. Muốn được như thế, của lễ đền tội dâng như truyền thốnt chẳng ăn nhằm gì với tội lôi ông phạm. Cần phải có một trái tim tan nát thống hối mới đáng Chúa thương tha thứ tội khiên, và lễ dâng mới mong Chúa chấp nhận!
Chẳng phải lễ dâng theo lề luật cũ, cũng chẳng phải công trạng củ chính mình, lòng thống hối ăn năn là nhân tố cần thiết để Thiên Chúa thứ tha tội lỗi và chấp nhận lễ dâng! Thống hối ăn năn, đề tội, mới chỉ là bước đầu tiên để tiến tới "Phúc Thật" Chúa Kitô tuyên dương:"Ai có tâm hồn trong sạch , sẽ nhìn thấyThiên Chúa". Như thế, dâng tiến lên của lễ toàn thiêu và các nghi lễ khác của luật lệ xưa, chưa phải là điều kiện để "Nhìn Thấy Chúa"! Vì lễ vật không đảm bảo cho một "tâm hồn trong sạch"!
Tâm hồn trong sạch phải được khởi đầu bằng sự thống hối, sự tan nát tâm hồn trức Thánh Nhan Thiên Chúa! Nếu tâm hồn không bày tỏ lòng khát khao ơn tha thứ, nếu trái tim không tan nát khổ sầu vì tội lỗi đã gây nên, luật lệ và lễ dâng sẽ trở thành vô hiệu! Nói khác đi, có sự phân biệt rõ rệt giữa nội dung và hình thức của sự việc đền
tội xin ơn tha thứ mả điều kiện căn bản phải có là tâm hồn tan nát khiêm cung!
Tác gỉa Thánh Vịnh 51 đã nhìn thấy sự cần thiết của ơn tha thứ, không phải là sự tuân giữ lề luật bắt buộc, nhưng hệ tại ở lòng thống hối thành khẩn ăn năn!
Nhưng nơi Chúa Kitô, không còn sự phân chia hình thức hay nội dung của sự tha thứ nữa, nhưng tất cả đã trở nên hội tụ và nhập thể trong chính Ngài! Từ tiếng kêu của Gioan tẩy Gỉa"Đây là Con Chiên Thiên Chúa" cho đến khi chết treo nơi thập tự gía trên đồi Calvê, Chúa Kitô là đại diện hữu hình của Lề Luật Thiên Chúa, có khả năng thứ tha tội lỗi và cải hoá cuộc sống nhân loại! Những nẻo đường Ngài đi qua, những lời ngài rao giảng, những cử chỉ, động tác, ngay đến đụng đến áo mặc của Ngài, tất cả đều thôbng truyền trực tiếp sự tha thứ, thanh tẩy tội lỗi và chấp nhận của Chúa Cha Toàn Năng tự trời cao! Các phép lạ được ghi chép trong Bốn Phúc Âm chứng tỏ hai điều quan trọng: Chúa Kitô là hiện thân của quyền năng Thiên Chúa, đồng thời là dấu chỉ hữu hình sự tha thứ của Thiên Chúa cho nhân trần tội lỗi! Chẳng hạn các ph6p lạ điển hình sau đau: phép lạ chữa người bị qủy ám tại thành giêraen(Lk.8:26-33) , chữa người bất toại bên hồ Bethzatha( Jn 5:1-9), ch39a người m7 thành Siloan(Jn 9:1-12), dẹp yên sónh gió(Lk 8:22-25); chữa đầy tớ viên bách quan(Lk 7:1-9), cho con trai bà quả phụ thành Naim sống lại(Lk 7:11-17; Mt 8:1-4; Mk 5:12-16) chữa lành người bị phong cùi(Lk 5:12-15), chữa lành người bại sụi(Lk 5:17-26; Mt 9:1-8; Mk 2:1-12), Làm cho nước hóa rượu tại tiệc cưới Cana( Jn2:1-12), cho bánh hóa nhiều(Jn 6:1-15; Mk 6:31-44; Lk 9:10-17) Chúa đi trên mặt hồ Jn 6:16-21; Mk 6:45-52; Mt 4:22-33), chữa người mù từ lúc mới sinh(Jn9:1-41), cho Lazarô chết bốn ngày sống lại(Jn 11:1-44).
Các phép lạ, không những chỉ minh chứng quyền năng Thiên Chúa nơi Đức Kitô, mà còn bày tỏ sự tha thứ tội cho nhân loại: Chẳng hạn như phép lạ chữa người bị tê liệt từ mái nhà thòng xuống : (Mk 2:1-6; Mt 9:1-8; Lk 5: 17-26)
Quyền tha thứ tội lỗi cũng còn được trao ban cho Giáo-Hội do Ngài thành lập:
(Mt 16: 13-20; Mk 8:27-29; Lk 9:18-20; Jn 21: 15-19).Nói cách khác, Giáo-Hội tiếp tục sứ mệnh của Chúa Kitô, tức là nói lên quyền năng của Thiên Chúa, đồng thời thực hiện sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại:
"Hãy đi khắp cả thiên hạ, rao giảng Tin-Mầng cho hết mọi loài thọ tạo! Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin thì sẽ bị luận phạt.những dấu lạ sau đây sẽ theo ssát các người tin:nhân danh ta, chúng sẽ trừ quỉ,nói các thứ tiếng lạ, chúng sẽ cầm rắn độc trong tay, và dẫu có uống nhằm thuốc độc giết người, họ sẽ vô hại, họ sẽ đặt tay trên kẻ đau ốm tật nguyền, các người nầy sẽ được lành mạnh.
Et dixit eis: “ Euntes in mundum universum praedicate evangelium omni creaturae.
Qui crediderit et baptizatus fuerit, salvus erit; qui vero non crediderit, condemnabitur.
Signa autem eos, qui crediderint, haec sequentur: in nomine meo daemonia eicient, linguis loquentur novis, serpentes tollent, et, si mortiferum quid biberint, non eos nocebit, super aegrotos manus imponent, et bene habebunt ” (Mk 16, 15-18)
Trở lại với các phép lạ do Chúa Kitô làm, chúng ta thấy có sự liên hệ mật thiết giữa sự thanh tẩy tâm hồn và sự chữa lành bệnh tật thể xác. Chẳng ạn trong phép lạ Chúa chữa lành người bất toại được khiêng đến và thòng xuống từ mái nhà, nơi Chúa đang gỉang dạy: Nhìn thấy niềm tin của những người khiêng, Chúa quay lại nói với người bất toại:" Hởi con, tội lỗi con được tha"(Mk 2:5).
Những người Pharisêu có mặt đó, nghe thấy vậy bèn thì thào với nhau: Ai cho ông nầy quyền tha tội, vì việc tha thứ tội lỗi chỉ dành cho Thiên chúa mà thôi, loài người ai dám nhận mình có thứ quyền ấy! Để minh chứng cho mọi người biết quyền tha thứ tội lỗi được trao ban cho "Con Người" như dấu hiệu hiển nhiên là: "Nước Chúa" đã đến giữa trần gian, Chúa truyền cho người bất toại:" Ta bảo ngươi, hãy chỗi dậy, vác chỏng về nhà" Với câu nói đó, Chúa muốn cho những người có mặt hôm đó hiểu biết một chân lý về Ngài: tha thứ tội lỗi và chữa lành bệnh tật là sứ mệnh của ngài, chính quyền năng Thiên Chúa hiện hữu nơi Ngài! Những người nghe Chúa hiểu ngài muốn nói gì: chữa lành bệnh bên ngoài thể xác, và tha thứ tội ràng bộc trong tâm hồn! Theo não trạng của người Do-Thái và tư tưởng truyền thống: bệnh tật nơi thể xác là dấu bên ngoài cho thấy nội tâm đang bị vương vấn tội tình, hay đang ở trong tìh trạng tâm hồn bất ổn: một người bị mù loà, câm, điếc hay bị phong hủi, có nghĩa là linh hồn người ấy đang bị hoen ố, không trong sạch. Nói tóm: bệnh hoạn tật nguyền là dầu hữu hình chứng tỏ một tình trạng xáo trộn nghiêm trọng đang dày vò bên trong nội tâm!
Khi Chúa Kitô tuyên bố sự tha thứ tội lỗi, cũng là lúc Ngài loan báo dấu chỉ hữu hình của"Nước Trời" đã đến giữa trần gian! Khi "Nước-Trời" đến, tức là thời điểm của "Cơ Cấu Mới", "Lề-Luật Mới"đã khai diễn, chấm dứt thời đại của lề luật cũ:"Et antiquum documentum Novo cedat ritui"!
Đây cũng chính là thời điểm Chúa Kitô đem đến sự thanh tẩy toàn vẹn cho cả một hệ thống tư tưởng và đạo đức cổ truyền Do-Thái!
Sách Tông-Đồ Sứ Vụ nhấn mạnh đến "Phép Rửa Nhân Danh Đức Kitô" như là một biểu tượng của sự "Tẩy Xóa Tội Lỗi". Thánh Phaolô, khi đương đầu với những kẻ thù tìm giết ngài tại Jerusalem, ngài kể lại cho họ nghe về trường hợp ngài được ơn trở lại "Đạo-Thánh"! Ngài nhắc đến lời của đầy tớ Chúa là Ananias đến tìm gặp ngài tại Đamascô mà nói rằng:"Tại sao anh còn đình trệt nữa, hãy chỗi dậy, hãy chịu "Phép Rửa" để được tẩy xoá mọi tội lỗi, và hãy kêu cầu Thánh Danh Ngài(Kitô)
“Et nunc quid moraris? Exsurgens baptizare et ablue peccata tua, invocato nomine ipsius”. (Acts. 22:16)
Các môn đệ Chúa và cọng đoàn Giáo-Hội sơ khai tin theo và chịu phép rửa để được rửa sạch tội khiên, không bao giờ có sự nghi nan về quyền tha tội nầy từ đâu đến , vì tất cả đều thâm tín là trong Chúa Kitô có ơn tha tội và quyền năng của Thiên Chúa ở cùng! Trong Sách Khải-Huyền, Thánh Gioan đã khẳng quyết rõ ràng :
" Ân sủng và bình an cho anh em, do tự Đấng đang có, đã có và sẽ đến, và do tự bảy Thần Khí trước ngai của Người! Và do tự Đức Kitô, vị chứng nhân trung thành của Thiên Chúa, trưởng tử giữa các vong linh, thủ lãnh các đế quốc trên trái đất! Kính chúc Đấng yêu mến chúng ta, và đã cứu thoát ta khỏi mọi tội lỗi nhờ bửu huyết của Ngài, biến chúng ta trở nên một vương quốc tư tế cho Thiên Chúa và là Cha của Ngài!Kính chúc ngài vinh quang, uy quyền cho đến muôn thủa muôn đời, Amen!
“ Ioannes septem ecclesiis, quae sunt in Asia: Gratia vobis et pax ab eo, qui est et qui erat et qui venturus est, et a septem spiritibus, qui in conspectu throni eius sunt,
5 et ab Iesu Christo, qui est testis fidelis, primogenitus mortuorum et princeps regum terrae.
Ei, qui diligit nos et solvit nos a peccatis nostris in sanguine suo
6 et fecit nos regnum, sacerdotes Deo et Patri suo, ipsi gloria et imperium in saecula saeculorum. Amen. (Rev.1:5-6)
Trong thị kiến về ngày vinh thắng toàn công của các tôi tớ Thiên chúa, Thánh Gioan nhìn thấy cảnh huy hoàng rực rỡ trong đó có hằng hà sa sớ nhưng người mặc áo toàn trắng đứng phủ phục trước ngai toà Con Chiên, mà không biết họ là ai và từ đâu tới?Bấy giờ vị trưởng lão trả lời thánh nhân:" Họ là những kẻ đã phải trải qua cuộc bách hại ghê gớm, và bởi vì họ đã tẩy áo mình cho trong trắng trong máu Chiên Con.
“Và vì lẽ đó họ được ở trước ngai Thiên Chúa, và phụng sự Người ngày đêm trong Điện thò của người, và Đấng ngự trên ngai căng trướng của Ngài cho họ! Họ không bao giờ còn thấy đói khát nữa, và sẽ không chịu trời nắng và gió nóng hành hạ nữa!
Bởi vì Chiên Con ngự trên tòa sẽ là mực tưử chăn giắt họ, và sẽ dẫn đưa họ tới suối nước mát chảy, và Thiên Chúa sẽ lau sạch mắt họ khỏi mọi gìng lệ sầu”!
“Et respondit unus de senioribus dicens mihi: “ Hi, qui amicti sunt stolis albis, qui sunt et unde venerunt?
Et dixi illi:“ Domine mi, tu scis ”. Et dixit mihi:“ Hi sunt qui veniunt de tribulatione magna et laverunt stolas suas et dealbaverunt eas in sanguine Agni. Ideo sunt ante thronum Dei et serviunt ei die ac nocte in templo eius; et, qui sedet in throno, habitabit super illos. Non esurient amplius neque sitient amplius, neque cadet super illos sol neque ullus aestus, quoniam Agnus, qui in medio throni est, pascet illos et deducet eos ad vitae fontes aquarum, et absterget Deus omnem lacrimam ex oculis eorum ”. (Rev.7:13-17)
Hình ảnh tuyệt vời của ngày Vinh Thắng được mô tả trong Sách Khải-Huyền đã có một ảnh hưởng thật sâu đậm trên nhiều tâm hồn kitô hữu qua giòng thời gian! Nhiều tâm hồn tội lỗi sau khi ăn năn trở về với Chúa, đã có cảm nghiệm thâm sâu về ân huệ được trở nên trong sạch nhờ được tắm rửa trong máu của Chiên Con! Ư thức rằng tội lỗi mình được thứ tha, và cảm nghiệm tìm lại được sự trong trắng nơi tâm hồn sau bao năm đắm chìm trong bùn nhơ tội lỗi đã làm cho nhiều hối nhâm cảm động không cầm nổi giòng lệ chan hoà trong các lần xưng tội " Mùa Đại-Phúc"! Nhiều hối nhân vì qúa xúc động đã oà lên khóc nức nở không cầm lại được! Sau đó ta thấy cuộc đời họ có gì khác lạ: một sự biến đổi hoàn toàn, một sự chuyển hướng, dường như họ đã thật sự trở thành một con người mới, được tái sinh vào một cuộc sống mới đến nỗi khoa tâm lý thực nghiệm hoặc khoa phân tâm học cũng không thể thăm dò những biến đổi kỳ lạ nầy! Việc gì đã xảy ra nơi tâm linh họ?
Thưa, ân sủng của Thiên Chúa qua tác động của bí tích, họ đã thật sự gặp gỡ Chúa Kitô, chính Ngài là động lực và sức mạnh hoán cải tâm hồn họ!Chính máu của Ngài đã đổ xuống tẩy xóa tội khiên và làm co họ nên trong sạch tinh tuyền!
Sự biến đổi kỳ diệu do Thần-Trí, Ơn Sủng và máu của "Chiên Con" vẹn sạch nơi tâm hồn người trở lại đã được Thánh Phaolô mô tả dưới ngòi bút tuyệt vời trong thư ngài gửi giáo đoàn Galatia như sau:
" ...Vì xác thịt có những đam mê chống lại với thần Trí, và Thần Trí có những điều chống lại với xác thịt, đôi đàng dằng co cầm cự nhau cho nên khiến anh em không thể hể muốn là làm được! Nhưng nếu anh em để Thần Trí hướng dẫn đi, anh em không phải chịu quyền của lề luật. mà đã rõ, việc của xác thịt tức là:dâm bôn, ô uế, phóng đảng, thờ quấy, ma thuật, hằn thù, kình địch, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp chia rẽ, bè đảng, ganh tị, say sưa, chè chén và các điều khác như vậy! Và tôi bảo trước cho anh em hay, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm những điều ấy, sẽ không được " Nước hiên Chúa" làm cơ nghiệp! Còn hoa qủa của Thần Trí là: mến yêu, vui mầng, bình an,
rộng rãi, tốt lành, lương thiện, tín trực, hiền từ tiết độ, không có luật nào chống các điều ấy.Những ai thuộc về Đức Kitô thì đã đóng đinhxác thịt vào thập giá, làm mọt với các tình dục và đam mê! Nếu sống bởi Thần Trí thì ta cũng hướng theo Thần Trí mà tiến bước”!
« Dico autem: Spiritu ambulate et concupiscentiam carnis ne perfeceritis. Caro enim concupiscit adversus Spiritum, Spiritus autem adversus carnem; haec enim invicem adversantur, ut non, quaecumque vultis, illa faciatis. Quod si Spiritu ducimini, non estis sub lege. Manifesta autem sunt opera carnis, quae sunt fornicatio, immunditia, luxuria, idolorum servitus, veneficia, inimicitiae, contentiones, aemulationes, irae, rixae, dissensiones, sectae, invidiae, ebrietates, comissationes et his similia; quae praedico vobis, sicut praedixi, quoniam, qui talia agunt, regnum Dei non consequentur. Fructus autem Spiritus est caritas, gaudium, pax, longanimitas, benignitas, bonitas, fides, mansuetudo, continentia; adversus huiusmodi non est lex. Qui autem sunt Christi Iesu, carnem crucifixerunt cum vitiis et concupiscentiis ». ( Gal. 5:16-25).
Qua đoạn thư trên, Thánh Phaolô diễn tả sự thay đổi trong nội tâm nhờ sức mạnh của ân sủng của Thần Trí: trước khi Thần Trí đến, con người sống theo xác thịt đồi trụy, sa đoạ của xác thịt, nhưng một khi Thần Trí đã ngự nhập vào linh hồn, mọi sự sẽ thay đổi kỳ diệu mà thánh nhân gọi là hoa trái của Thần Trí: là yêu thương, mầng vi, an bình, kien nhẫn bặt thiệp nhẫn nại, trung thành. hiền lành dịu dàng và biết kiềm ché xác thịt”(Gal .5:22-23).
Khi ý thức được sự đổi thay kỳ diệu trong tâm hồn, tức là nhìn nhận chân lý nầy:
tâm hồn ta, nhờ ơn tác động của Thần Trí, đang trên tiến trình trở nên trong sạch!
Nói khác đi, với ơn thánh của Chúa, chúngt a có khả thể tìm lại sự trong sạch khiết tịnh của tâm hồn, nghĩa là chúng ta đang trở nên trong sạch!
Nhưng Chúa Kitô có ngụ ý gì khi tuyên bố:"người có tâm hồn trong sạch sẽ nhìn thấy Thiên Chúa?
Chắc chắn lời tuyên dương trên đây của Chúa Kitô có tính cách cánh chung, tức là trong viễn ảnh của ngày Vinh Thắng cuối cùng! Các vị thánh được mô tả trong Sách Khải Huyền, sau khi đã được rửa sạch khỏi các vết nhơ trong máu của Chiên Con, đã được diện kiến Thiên Chúa! Trái tim khiết tịnh trong sạch tinh tuyền của các ngài đã đưa các ngài nhìn nhận đựợc Đấng Thánh Thiện Công Chính mà hữu thể của Ngài đang trải rộng nơi cảm nghiệm linh thánh Thiên Đàng!
Một ThoángThiên Đàng: Nơi Trái Tim Thanh Tịnh! Hàn-Mạc-Tử
Nhưng phải chăng, con người phải chờ đến lúc về trời mới được diện kiến Thiên Chúa? Phải chăng Thiên Đàng chỉ dành cho con người trong một tương lai mai hậu?
Bạn có nhận thấy, trong đời ta, có những lúc, những phút giây, tuy hiếm hoi, nhưng có những giây phút, tuy ngắn ngủi, ta cảm nghiệm được, có một cái gì linh thánh, thiêng liêng đang hiện hữu gần ta?!Có một cái gì đó thật khó tả, nhưng có thật, rất êm đềm, rất huyền diệu đang vây phủ ta, đang nói lời thật ngọt ngào nơi trái tim thanh tịnh của ta! Những lúc như thế, người ta có linh cảm đang nếm thử Thiên Đàng nơi dương thế!
Đọc bài thơ “Ave Maria" của thi sĩ Hàn Mặc Tử, chúng ta nhận thấy hình như thi sĩ đang cảm nghiệm được "một thoáng Thiên Đàng nơi dương thế", mặc dầu dương thế của ông lấp đày những khổ đau ngút ngàn! Nhưng giữa những khổ đau chất ngất ấy, thi nhân đã siêu vượt lên cao hơn thân xác, cao hơn vật chất, đểm tìm thấy có một cái gì đó"êm đềm huyền siêu" thật khó diễn tả bằng ngôn từ của loài người! Giây phút cảm nghiệm "thần thánh " ấy tuy rất ngắn, nhưng có thật, rất thật, để ban thêm thần lực cho thi nhân trãi qua những giờ phút đớn đau tàn phá trên thân xác mình:
" Như sóng lộc triều nguyên: ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng;
Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng!
Huyền diệu biến thànhmuôn kinh trọng thể!
Và Tổng-Lảnh Thiên Thần qùy lạy Mẹ!
Tung hô câu đườnghạ ngớp châu sa!
Hương xông lên lời ca ngợi xum hòa;
Trí miêu duệ cả muôn vì rất thánh!Maria! linh hồn tôi ớn lạnh!
Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng,
Nhưng lòng vẩn thấm nhuần ơn trìu mến!Lạy bà là Đấng tinh tuyền thanh vẹn
Giầu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy.
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai giòng lệ:
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ.
Bút tôi gieo như châu ngọc đền vua;
Trí tôi hít bao nhiêu là thi vị!
Và trongmiệng ngâm câu ca huyền bí!
Và trong tay nắm một nạm hào quang...Tôi no rồi ơn vũ lộ hoà chan.
Tấu lạy bà, Bà rất nhiều phép lạ,
Ngọc Như ý vô tri còn biết cả
Huống chi tôi là thánhThể kết tinh.
Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu r0ng bình mih,
Chiếu cùng hết ba ngàn thế giới..
Sáng nhiều qúa co âm thnh vời vợi,
Thơm dườngbao cho miệng lưỡi không khen,Hởi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel!
Khi Người xuống tền tin cho Thánh Nữ:
Người có nghe xôn xao bao tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm Ra Đời?
Để ca tụng bằng hương hoa sáng loáng,
Bằng trag hạt, bằng Sao mai chiếu rạng;
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh?Đây rồi! Đây rồi ! chuổi ngọc vàng kinh!
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý;
Trượng phu lời là tông đồ triết lý;
Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh!
Là Nguồn Đau châu lụy Nữ Đồng trinh!Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp;
Lhói nghiêm trang sẽ dâng lêntràn ngập;
Cả hàn giang, cả mầu sắc thiên không
Lút trí khôn vàâm ảnh hương lòng,
Cho sốt sắng cho đê mê nguyện ước!...Tấu lạy bà, lạy bà đầy ơn phước;
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm;
Thơ trong trăng như một khối băng tâm;
Luôn luôn reo trong hồn trong mạch máu;
Cho vở lỡ cả muôn ngàn tinh đẩu.
Cho đê mê âm nhạc và thanh hương,
Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng,
Lòng vua chúa cũng như lòng lữ thứ.
Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đầy ứ;
Nguồn thêng liêng yêu chuộng mẹ Sầu Bi!
Phượng-Trì! Phượng-Trì!
Phượng-Trì
Phượng-Trì!Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu,
Trên triều thên ngời chói vạn hào quang! (Hàn Mặc-Tử)
Cả bài thơ như một lời kinh, lời Thơ-Kinh tràn dâng lên ý nhạc! Nhạc thơ quyện lẫn vào nhau như cuộc đối thoại thần bí! Âm thanh, tiết tấu nghe lạ thường! người ta có cảm giác Hàn Mặc Tử đang hội thoại với Thần Linh! Tuy thi nhân dùng từ ngữ của trần gian, hưng nội dung của cuộc hội thoại trần gian khó hiểu thấu, ngoại trừ người đọc bài thơ trong tâm tình kinh nguyện! Bởi v́ qua kinh nguyện, ta có thể đi vào hội thoại với Đấng Linh Thiêng! Thi sĩ Hàn Mặc Tử viết bài thơ Ave Maria, không phải để cho người trần gian đọc, nhưng là để nguyện cầu với Thiên Chúa, với Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, với Sứ Thần, với Triều Đình Thiên Quốc, hay nói khác đi, bài thơ như chiếc cầu đưa thi nhân vào hội ngộ cùng Thiên Quốc! Khi viết thơ lên là cõi lòng thi nhân thấy như ngụp lặn trong triều ngyên phước lộc, lòng thi nhân như được no thỏa bởi ơn Trời:
"Thơ trong trăng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn , trongmạch máu!
Cho vỡ lợ cả muôn ngàn tinh đẩu
Cho đê mê âm nhạc và thanh hương!
Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đầy ứ!
Nguồn thiêng liên g yêu chuộng Mẹ Sầu Bi"!
Mạch thơ dạt dào trong nhịp tim nhân loại, bổng dưng khựng lại khi thi nhân hạ bút viết lên những chữ:
" Phượng-Trì! Phượng-Trì! Phượng-Trì! Phượng-Trì!
Không ai hiểu thi nhân muốn nói gì nơi bốn chữ Phượng-Trì nầy?
Cụm từ"Phượng-Trì" được viết xuống giấy mực trần gian, dùng chữ nghĩa trần gian, mà lòng thi nhân muốn miêu tả một cái gì "Linh-Thánh" không thể diễn tả được!
Đó là giây phút thi nhân cảm nghiệm được "Thiên-Đàng", nơi tâm hồn khiết tịnh của thi nhân đang ngóng đợi từ lâu! Những chữ "Phượng-Trì" mô tả một thoáng Thiên Đàng về nơi cõi lòng người lữ thứ!. Có thế thôi! Đủ rồi! Đủ rồi cho cho âm hưởng của cả một bài thơ. Đủ rồi cho linh hồn thi nhân suốt một đời tìm kiếm! Dẫu một thoáng "Thiên-Đàng" mà thôi, thi nhân đã tìm được đích điểm cho cuộc hành trình dương thế đầy khổ đau chất ngất:
"Thơ tôi bay, suốt một đời chưa thấu;
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu,
Trên triêu thiên ngời chói vạn hào quang!
Hàn mặc Tử, cuối cùng đã nhìn thấy hào quang sáng chói lọi trên Triều Thiên Vinh Hiển mà Thiên Chúa đang dành sẵn cho ông! Nói khác đi, tâm hồn trong sáng của Hàn Mặc Tử, trong "một thoáng Thiên Đàng" đã chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Đúng như lời Phúc Thật Chúa Kitô tuyên dương:" Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch khiết tịnh, vì sẽ được chiêm ngưỡng nhan Thiên Chúa " (Matt 5:8).
" Beati mundo corde, quoniam ipsi Deum videbunt"( (Mat. 5:8)
Không phải riêng cho Hàn Mặc Tử, nhưng cho bất cứ ai, đều có những giây phút tuyệt vời, khi trái tim trong sáng, khi linh hồn thanh tịnh không động vọng, không bị làm hoen ố ,vẩn đục bởi dục vọng, sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thần Linh!
Trong những lúc thanh tịnh và bình yên nội tâm, ta cảm được Thiên Chúa đang gần kề chúng ta. Thật nhẹ nhàng, thật êm đềm," Thiên-Đàng" vẩn hé mở cho tâm hồn nhân loại! Và mỗi ngày Thiên Chúa mời gọi ta đi tới ngài trong an bình hanh tịnh! Niềm vui vô bờ bến khó tả cảm nghiệm được trong tâm hồn, đó là khúc ca khởi tấu đưa ta vào quê hương của Thần Linh. Thiên Đàng đã chớm nở dưới thế. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi ta bước vào đó với Ngài!
Một thoáng Thiên Đàng chớm nở trong Tâm Hồn Thanh Tịnh, Tự Nhiên! Thảnh thơi! An b́nh! Nội Tại”,Phải chăng đó là “Một Cơi Đi Về” của đời ta?
Một Cơi tôi đi về
là gốc cây vườn sau hạnh ngộ
ṿm trời cao xanh,bền vững b́nh an
áng mây trôi lang thang hồn nhiên phiêu bạt
tiếng côn trùng bí ẩn thầm th́ ca hát
cánh bướm muôn màu tung tăng kheo sắc
những tiếng chim reo vui ca ríu rít đó đây
những chú sóc con vô tư đùa giởn trên những cành cây
tôi phiêu cảm h́nh như Ngài đang có mặt nơi đây
Tự nhiên! Thảnh thơi! An b́nh! Nội tại!
rất êm đềm, Ngài nói khẻ trong tim:
gốc cây vườn sau khiêm tốn đó
là một cơi Chúa hẹn ḥ”!
Hải-Hồ (Một Cơi Đi Về)
Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D
Xem các bài viết khác trong Rev. Nguyễn Quốc Hải, Khoá 7 GHHV Đà Lạt Việt Nam.